Thái Nguyên: Hội nhập quốc tế về lao động và xã hội ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất
Sau 10 năm triển khai Chiến lược hội nhập quốc tế về lao động và xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tỉnh Thái Nguyên đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận trong phát triển thị trường lao động, giải quyết việc làm, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, củng cố quan hệ lao động, bảo đảm an sinh xã hội và tăng cường hợp tác quốc tế. Những kết quả này đang tạo nền tảng quan trọng để địa phương tiếp tục thích ứng với chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh và những yêu cầu mới của thị trường lao động đến năm 2030.


Sở Nội vụ tiếp đoàn đến từ Trung tâm kỹ thuật Nông nghiệp thành phố WonJu - Hàn Quốc
Ngày 25/8/2026, Sở Nội vụ tỉnh Thái Nguyên có báo cáo gửi Bộ Nội vụ về tình hình thực hiện Chiến lược hội nhập quốc tế về lao động và xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 145/QĐ-TTg ngày 20/01/2016. Báo cáo nhìn lại kết quả thực hiện trong giai đoạn 2016-2026, đồng thời xác định những nhiệm vụ trọng tâm trong chặng đường tiếp theo.
Mở rộng kết nối cung - cầu, từng bước hiện đại hóa thị trường lao động
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và chuyển đổi xanh, yêu cầu đối với chất lượng nguồn nhân lực và khả năng thích ứng của người lao động ngày càng cao. Đối với Thái Nguyên, quá trình đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hội nhập quốc tế đã mở ra thêm nhiều cơ hội việc làm, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về chất lượng nhân lực, quan hệ lao động, an sinh xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.
Một trong những kết quả nổi bật trong 10 năm qua là công tác phát triển thị trường lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm và kết nối cung - cầu được duy trì thường xuyên, với phương thức ngày càng đa dạng.
Từ năm 2016 đến nay, toàn tỉnh đã thu thập thông tin nhu cầu tuyển dụng của 12.776 lượt doanh nghiệp; thực hiện 307.514 lượt tư vấn về chính sách, pháp luật lao động, việc làm và thông tin thị trường lao động; tư vấn, giới thiệu việc làm cho 37.871 lượt người lao động và kết nối, cung ứng việc làm cho trên 18.310 lượt lao động.
Hoạt động giao dịch việc làm cũng được tổ chức linh hoạt giữa trực tiếp, lưu động và trực tuyến. Trong giai đoạn thực hiện Chiến lược, toàn tỉnh tổ chức 11 Ngày hội việc làm cấp tỉnh, 40 Ngày hội việc làm cấp huyện, xã, phường và tương đương; 381 phiên giao dịch việc làm lưu động, 297 phiên giao dịch việc làm định kỳ, 99 phiên giao dịch việc làm trực tuyến và 245 hội nghị cung cấp thông tin thị trường lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm, định hướng nghề nghiệp, nâng cao kỹ năng nghề và tuyên truyền chính sách pháp luật lao động.
Việc tăng cường các hình thức kết nối trực tuyến không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận thông tin tuyển dụng mà còn góp phần giảm thời gian, chi phí đi lại cho người lao động, từng bước hướng thị trường lao động Thái Nguyên tới mô hình linh hoạt, hiện đại và thích ứng tốt hơn với chuyển đổi số.


Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, kết nối cung cầu được đặc biệt quan tâm
Hơn 36.600 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Cùng với phát triển thị trường lao động trong nước, công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài tiếp tục là một kênh giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và kỹ năng nghề cho người lao động của tỉnh.
Theo báo cáo, trong giai đoạn 2016-2026, tỉnh Thái Nguyên có 36.629 người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Riêng từ ngày 01/01 đến hết ngày 31/7/2026, toàn tỉnh có 1.468 người lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, bình quân gần 210 người/tháng. Trong số này có 961 lao động nam, chiếm 65,5% và 507 lao động nữ, chiếm 34,5%. Người lao động của tỉnh làm việc tại 16 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Đài Loan và Nhật Bản tiếp tục là hai thị trường tiếp nhận chủ yếu. Cụ thể, Đài Loan tiếp nhận 942 người, chiếm 64,2%; Nhật Bản 384 người, chiếm 26,2%. Tổng số lao động tại hai thị trường này là 1.326 người, chiếm 90,3% tổng số lao động xuất cảnh. Ngoài ra, Nga tiếp nhận 41 người, Hàn Quốc 26 người, Romania 23 người và 52 người làm việc tại các thị trường khác được nêu trong báo cáo.
Một dấu ấn đáng chú ý trong hợp tác quốc tế về lao động là việc Sở Nội vụ phối hợp với Công an tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh và Sở Tư pháp triển khai, ký kết Thỏa thuận hợp tác đưa người lao động đi làm việc thời vụ tại Hàn Quốc giữa Sở Nội vụ tỉnh Thái Nguyên và Chính quyền thành phố Wonju, tỉnh Gangwon. Đến hết tháng 7/2026, 51 lao động đã xuất cảnh, được các chủ sử dụng tiếp nhận làm việc tại các nông trường, trang trại theo hợp đồng đã ký.
Kết quả này mở thêm một kênh việc làm ở nước ngoài theo hướng an toàn, hợp pháp, có sự phối hợp quản lý giữa các cơ quan chức năng và phía đối tác.
Chất lượng nguồn nhân lực tiếp tục được nâng lên
Sau sáp nhập, tỉnh Thái Nguyên có 804.783 người trong lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên. Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch, trong đó khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 42,7%, dịch vụ chiếm 38,4%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 18,9%.
Đáng chú ý, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 71%, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 36,4%.
Công tác giáo dục nghề nghiệp đồng thời được gắn chặt hơn với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và yêu cầu hội nhập. Tính đến tháng 12/2025, toàn tỉnh có 2.376 cán bộ quản lý và nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, trong đó 1.138 người có trình độ sau đại học, chiếm 48%; 1.021 người có trình độ đại học, chiếm 43%; 217 người có trình độ cao đẳng, trung cấp và trình độ khác, chiếm 9%.
Nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã chủ động rà soát chương trình đào tạo, tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp và mở rộng hợp tác quốc tế. Điển hình, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật hợp tác đào tạo, trao đổi sinh viên với 3 trường đại học của Hàn Quốc; đã có 126 sinh viên tham gia chương trình du học, 3 nhà giáo tham gia chương trình trao đổi giảng viên và 3 chương trình liên kết đào tạo quốc tế được phê duyệt, cấp phép.
Tính đến tháng 5/2026, Trường Cao đẳng Thái Nguyên đã đào tạo trình độ cao đẳng cho 383 lưu học sinh quốc tế, gồm 222 lưu học sinh Lào và 161 lưu học sinh Campuchia.
Quan hệ lao động cơ bản ổn định, tăng cường đối thoại tại nơi làm việc
Cùng với mở rộng việc làm, tỉnh chú trọng xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
Theo báo cáo, đa số doanh nghiệp thực hiện tiền lương ngang bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng; không ghi nhận trường hợp trả lương thấp hơn mức quy định. Người lao động cơ bản được giao kết hợp đồng lao động và tham gia các loại hình bảo hiểm theo quy định.
Hằng năm, trên 90% doanh nghiệp có tổ chức công đoàn tổ chức hội nghị người lao động; 100% công đoàn cơ sở tổ chức đối thoại định kỳ. Toàn tỉnh hiện có 390 doanh nghiệp có tổ chức công đoàn đã ký kết thỏa ước lao động tập thể.
Trong đó, 332 công đoàn cơ sở có thỏa ước quy định về bữa ăn ca, mức bình quân khoảng 28.000 đồng/suất, cao nhất 60.000 đồng/suất.
Các thiết chế giải quyết tranh chấp lao động cũng được kiện toàn. Toàn tỉnh đã bổ nhiệm 99 hòa giải viên lao động tại các xã, phường; Hội đồng trọng tài lao động tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030 được thành lập với 15 trọng tài viên.
Từ sau ngày 01/7/2025 đến thời điểm báo cáo, hòa giải viên lao động đã tiếp nhận 5 vụ tranh chấp lao động cá nhân, trong đó 3 vụ hòa giải thành, 2 vụ hòa giải không thành.
Diện bao phủ bảo hiểm xã hội tăng rõ rệt
Trong lĩnh vực an sinh xã hội, số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục tăng.
Năm 2016, toàn tỉnh có 220.813 người tham gia BHXH, trong đó BHXH bắt buộc 217.881 người, BHXH tự nguyện 2.932 người.
Đến tháng 7/2026, số người tham gia BHXH đạt 342.756 người, tăng 121.943 người, tương ứng 55,22% so với năm 2016. Trong đó, BHXH bắt buộc đạt 287.197 người; BHXH tự nguyện đạt 55.559 người. Số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đạt 267.924 người.
Công tác giải quyết chế độ, chính sách được thực hiện kịp thời. Nếu năm 2016 đã tiếp nhận, giải quyết cho 163.330 lượt người, thì năm 2025 là 171.360 lượt người; riêng 7 tháng đầu năm 2026 đã giải quyết 98.894 lượt người hưởng các chế độ.
Số người hưởng chế độ BHXH hằng tháng cũng tăng từ 83.408 người năm 2016 lên 89.689 người tại thời điểm báo cáo, tăng 6.281 người.
An sinh xã hội tiếp tục được củng cố
Không chỉ chú trọng việc làm và bảo hiểm, các chính sách trợ giúp xã hội, bảo vệ trẻ em và giảm nghèo cũng được triển khai đồng bộ.
Trong công tác bảo vệ trẻ em, tỉnh đã tổ chức 217 lớp tập huấn, truyền thông với 22.500 lượt người tham gia; tổ chức 9 lần Diễn đàn trẻ em cấp tỉnh với sự tham gia của gần 1.000 trẻ em; tổ chức 4 phiên tòa giả định về bảo vệ trẻ em và trên 300 buổi phổ biến, giáo dục pháp luật, thu hút trên 10.000 lượt trẻ em.
Đối với trợ giúp xã hội, năm 2025 có 77.918 người hưởng trợ cấp xã hội, với kinh phí 557.009 triệu đồng; trong đó nhóm hưu trí xã hội có 31.076 người thụ hưởng. Hiện trên địa bàn tỉnh có 6 cơ sở trợ giúp xã hội, gồm 3 cơ sở công lập và 3 cơ sở ngoài công lập; các cơ sở công lập đang nuôi dưỡng 358 đối tượng, các cơ sở ngoài công lập nuôi dưỡng, chăm sóc 92 đối tượng.
Trong giai đoạn báo cáo, gần 100.000 lượt đối tượng thuộc các nhóm bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em, người cao tuổi và người lao động có hoàn cảnh khó khăn đã được hỗ trợ, với tổng kinh phí gần 24 tỷ đồng. Đồng thời, tỉnh đã hỗ trợ 26 nạn nhân bị mua bán trở về theo quy định.
Công tác giảm nghèo tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025, đầu năm 2022 toàn tỉnh có 42.903 hộ nghèo, chiếm 10,29%; đến cuối năm 2025 còn 18.568 hộ nghèo, chiếm 4,32%. Tỷ lệ hộ nghèo trong giai đoạn giảm 5,97%, bình quân mỗi năm giảm 1,19%, đạt mục tiêu đề ra.
Chủ động thích ứng với những yêu cầu mới đến năm 2030
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tạis một số hạn chế như: Công tác hội nhập quốc tế về lao động và xã hội tại địa phương hiện chủ yếu được lồng ghép trong các nhiệm vụ chuyên môn, chưa hình thành đầy đủ hệ thống chỉ tiêu riêng để theo dõi, đánh giá; việc thu thập, cập nhật và chia sẻ dữ liệu về thị trường lao động, lao động di cư và thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế còn hạn chế.
Nguồn nhân lực làm công tác hội nhập quốc tế vẫn còn hạn chế về số lượng, ngoại ngữ, kỹ năng đàm phán, pháp luật quốc tế và nghiên cứu chính sách; năng lực dự báo tác động của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh và biến đổi khí hậu đối với thị trường lao động chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu.
Đến năm 2030, tỉnh xác định tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động và bình đẳng giới phù hợp với các cam kết quốc tế; hoàn thiện hệ thống thông tin, dữ liệu thị trường lao động; mở rộng diện bao phủ BHXH, BHTN; nâng cao chất lượng hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài; đẩy mạnh hợp tác ASEAN và hợp tác quốc tế.
Đặc biệt, những nội dung mới như quản trị thị trường lao động bằng dữ liệu, tác động của trí tuệ nhân tạo đến việc làm và kỹ năng, việc làm xanh, lao động trên nền tảng số, di cư lao động quốc tế và già hóa dân số được xác định là những vấn đề cần nghiên cứu, bổ sung trong quá trình thực hiện Chiến lược thời gian tới.
Từng bước mở rộng hội nhập ASEAN trong lĩnh vực lao động và xã hội
Cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, Thái Nguyên từng bước triển khai các nội dung hội nhập ASEAN trong lĩnh vực lao động và xã hội, gắn với việc thực hiện các chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, quan hệ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn, vệ sinh lao động, người có công và bình đẳng giới.
Trọng tâm xuyên suốt là bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, đồng thời nâng cao chất lượng thực hiện chính sách để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập.
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, Sở Nội vụ tổ chức thực hiện và tham mưu triển khai các chính sách liên quan đến lao động, việc làm, tiền lương, quan hệ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người có công và bình đẳng giới. Song song với đó là tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người sử dụng lao động cũng như người lao động trong quá trình thực hiện các chính sách lao động và an sinh xã hội.
Điểm đáng chú ý là quá trình hội nhập ASEAN tại địa phương không được tách rời khỏi các nhiệm vụ quản lý nhà nước thường xuyên mà được lồng ghép vào quá trình mở rộng diện bao phủ chính sách, nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội và thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận cơ hội việc làm, thu nhập và các chính sách xã hội.
Qua đó, việc thực hiện các chính sách lao động và xã hội từng bước hướng tới mục tiêu vừa bảo đảm quyền của người lao động, vừa nâng cao chất lượng thị trường lao động và hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội trong bối cảnh hội nhập ASEAN và quốc tế.
Ở góc độ dài hạn, hội nhập ASEAN không chỉ đặt ra yêu cầu thích ứng với các tiêu chuẩn và xu hướng lao động mới mà còn đòi hỏi địa phương nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng khả năng kết nối thị trường lao động và củng cố các cơ chế bảo vệ người lao động. Đây cũng là cơ sở để Thái Nguyên tiếp tục mở rộng hợp tác trong lĩnh vực lao động và xã hội, đồng thời từng bước nâng cao khả năng tham gia của người lao động vào thị trường việc làm trong khu vực.
Lồng ghép hiệu quả các nhiệm vụ tại Kế hoạch tổng thể 1825
Một nội dung quan trọng khác trong quá trình triển khai Chiến lược là việc thực hiện các đề án, chương trình và nhiệm vụ theo Kế hoạch tổng thể số 1825.
Theo báo cáo, tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện theo hướng lồng ghép, cụ thể hóa các nhiệm vụ hội nhập quốc tế về lao động và xã hội vào các chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ chuyên môn của từng cơ quan, đơn vị. Cách tiếp cận này giúp các mục tiêu hội nhập được gắn trực tiếp với yêu cầu quản lý nhà nước và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Các nhóm nhiệm vụ có liên quan trực tiếp đến địa phương được tập trung vào một số lĩnh vực trọng tâm gồm: hoàn thiện thể chế; phát triển việc làm và thị trường lao động; đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; thúc đẩy bình đẳng giới; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ; tuyên truyền, phổ biến chính sách và tăng cường hợp tác quốc tế.
Việc lồng ghép các nội dung của Kế hoạch tổng thể 1825 vào hoạt động chuyên môn giúp hạn chế tình trạng triển khai rời rạc, đồng thời tạo sự kết nối giữa mục tiêu hội nhập với các nhiệm vụ cụ thể về phát triển thị trường lao động, bảo đảm an sinh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đối với những đề án, chương trình và nhiệm vụ thuộc thẩm quyền chủ trì của các cơ quan Trung ương, tỉnh thực hiện trách nhiệm phối hợp theo yêu cầu. Nội dung phối hợp tập trung vào cung cấp thông tin, số liệu; tham gia góp ý xây dựng chính sách, chương trình, đề án; đồng thời phối hợp triển khai và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo hướng dẫn của Trung ương.
Qua đó, việc thực hiện Kế hoạch tổng thể 1825 tại Thái Nguyên được triển khai theo hướng vừa bám sát định hướng chung của Trung ương, vừa gắn với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tiễn của địa phương. Đây là yếu tố quan trọng góp phần bảo đảm tính thống nhất trong quá trình thực hiện Chiến lược, đồng thời đưa các nội dung hội nhập quốc tế về lao động và xã hội từng bước đi vào hoạt động quản lý nhà nước thường xuyên.
Những kết quả trong thực hiện hội nhập ASEAN và Kế hoạch tổng thể 1825 cho thấy hội nhập quốc tế về lao động và xã hội tại Thái Nguyên đang được triển khai theo hướng ngày càng gắn chặt với quản lý nhà nước, phát triển thị trường lao động và bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, trước những biến động nhanh của công nghệ, chuyển đổi xanh và thị trường việc làm, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn đến năm 2030 là tiếp tục nâng cao năng lực dự báo, hoàn thiện dữ liệu và tăng cường chất lượng nguồn nhân lực.
Sau một thập kỷ triển khai, hội nhập quốc tế về lao động và xã hội tại Thái Nguyên đã từng bước chuyển từ yêu cầu của quá trình hội nhập thành một bộ phận gắn với quản lý thị trường lao động, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội. Những kết quả đã đạt được là tiền đề để tỉnh tiếp tục xây dựng thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, bền vững và hội nhập, đồng thời đặt người lao động và doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển trong giai đoạn mới./.
Ngọc Tú